TriTueCoNhan.comTrí Tuệ Cổ Nhân
Dùng lời xưa hôm nay cho tỉnh

Trí tuệ cổ nhân và khoa học hành vi: chỗ gặp nhau, chỗ vênh và bẫy gán ghép

Lời Epictetus, Aristotle, Tăng Tử gặp liệu pháp nhận thức, nghiên cứu thói quen và tự phản tư ở đâu, chỗ nào vênh, và vì sao đừng nói khoa học đã chứng minh người xưa.

Close-up of hands writing in a plain notebook beside a cup of tea on a Da Lat balcony in early morning fog, pine trees blurred behind, soft green and cream palette

Trí tuệ cổ nhân và khoa học hành vi gặp nhau ở một số điểm có cơ sở rõ: ý của Epictetus rằng điều làm ta khổ là cách ta nhìn sự việc đã được các nhà sáng lập liệu pháp nhận thức nhắc tới như một nguồn cảm hứng; ý của Aristotle rằng đức hạnh hình thành từ thói quen khớp với nhiều nghiên cứu về thói quen; lời Tăng Tử mỗi ngày tự xét mình ba điều gần với các nghiên cứu về viết và tự phản tư. Nhưng gặp nhau không có nghĩa là khoa học đã chứng minh người xưa đúng, và ở một số chỗ, nghiên cứu hiện đại đi ngược với cách hiểu phổ biến về lời xưa.

Phần dưới đi qua năm chỗ gặp nhau kèm mức bằng chứng, ba chỗ vênh đáng chú ý, những bẫy hay gặp khi gán ghép, một thang đơn giản để đánh giá bằng chứng, và lý do lời xưa vẫn có ích ngay cả khi khoa học đã trả lời được nhiều câu hỏi.

Năm chỗ gặp nhau và mức bằng chứng

Cột cuối là đánh giá khái quát về độ vững của phần khoa học, không phải đánh giá lời xưa đúng hay sai.

Lời xưaNguồnKhái niệm hiện đại gần nhấtMức bằng chứng
Điều làm người ta bối rối không phải sự việc mà là ý kiến về sự việcCẩm nang của EpictetusLiệu pháp nhận thức hành vi: thay đổi cách diễn giải để thay đổi cảm xúcMạnh với trầm cảm, lo âu khi do chuyên gia thực hiện
Đức hạnh hình thành từ thói quenĐạo đức học Nicomachean, quyển 2Thói quen hình thành qua lặp lại trong bối cảnh ổn địnhKhá vững, thời gian hình thành khác nhau nhiều giữa người
Mỗi ngày tự xét mình ba điềuLuận ngữ, thiên Học nhi, lời Tăng TửViết phản tư, viết bộc lộ cảm xúcCó hiệu quả nhưng thường ở mức vừa và nhỏ
Hình dung điều xấu trước khi nó xảy raSeneca và các nhà khắc kỷPhân tích tiền nghiệm (pre-mortem), nhìn lại từ tương laiỨng dụng rộng trong quản trị, bằng chứng thực nghiệm còn ít
Biết đủ thì không nhụcĐạo đức kinh, chương 44Thích nghi khoái lạc: niềm vui từ thứ mới mua phai dầnHiện tượng được ghi nhận nhiều, mức độ còn tranh luận

Bảng cho thấy một điều quan trọng: chỗ gặp nhau có độ vững rất khác nhau. Liệu pháp nhận thức là một trong những phương pháp tâm lý trị liệu được nghiên cứu nhiều nhất; còn phân tích tiền nghiệm phổ biến trong doanh nghiệp chủ yếu nhờ tính hợp lý và sự dễ áp dụng, chưa nhờ nhiều thí nghiệm có đối chứng.

Đọc kỹ ba chỗ gặp nhau tiêu biểu

Với Epictetus và liệu pháp nhận thức, mối liên hệ không phải do người đời sau tự gán. Albert Ellis, người phát triển liệu pháp hành vi cảm xúc duy lý từ thập niên 1950, và Aaron Beck, người phát triển liệu pháp nhận thức từ thập niên 1960, đều từng nhắc tới các nhà khắc kỷ như tiền thân về mặt ý tưởng. Tuy vậy, liệu pháp hiện đại là một hệ thống kỹ thuật được kiểm nghiệm, có quy trình, có chuyên gia; đọc Epictetus không thay được trị liệu khi một người đang khủng hoảng.

Với Aristotle và thói quen, một nghiên cứu năm 2009 của Phillippa Lally và cộng sự theo dõi người tham gia tập một hành vi mới mỗi ngày và thấy thời gian để hành vi trở nên tự động dao động rất rộng, trung vị khoảng hai tháng, có người nhanh hơn nhiều, có người lâu hơn nhiều. Điều này vừa ủng hộ ý của Aristotle rằng ta trở nên công bằng nhờ làm việc công bằng, vừa bác bỏ những con số tròn trĩnh kiểu "hai mươi mốt ngày tạo thói quen" hay được gán cho khoa học.

Với việc tự xét mình, những nghiên cứu do James Pennebaker khởi xướng từ giữa thập niên 1980 cho thấy viết về trải nghiệm khó khăn trong vài buổi ngắn có thể mang lại lợi ích nhất định về sức khoẻ và tâm trạng. Các tổng hợp về sau cho thấy hiệu quả có thật nhưng thường khiêm tốn và không đồng đều. Lời Tăng Tử và nhật ký buổi tối của Seneca vì vậy gặp khoa học ở hướng đi, chứ không phải ở lời hứa hẹn chắc chắn.

Ba chỗ vênh: khi nghiên cứu đi ngược cách hiểu phổ biến

Kìm nén cảm xúc không phải là khắc kỷ. Nhiều người hiểu lời dạy "giữ bình tĩnh" của khắc kỷ hay Nho học là nén cảm xúc xuống, không để lộ ra. Nghiên cứu của James Gross và Oliver John năm 2003 phân biệt hai cách điều tiết cảm xúc: kìm nén biểu hiện và đánh giá lại tình huống. Người hay kìm nén có xu hướng gặp nhiều cảm xúc tiêu cực hơn và quan hệ xã hội kém hơn; người hay đánh giá lại thì ngược lại. Điều thú vị là chính các nhà khắc kỷ gần với cách đánh giá lại hơn, nên chỗ vênh nằm ở cách hiểu phổ biến, không phải ở người xưa.

Ý chí không hẳn là một kho dự trữ cạn dần. Những cách đọc lời xưa theo kiểu "kỷ luật thép" thường dựa vào mô hình cho rằng ý chí như cơ bắp, dùng nhiều sẽ mỏi. Mô hình này từng rất có ảnh hưởng sau các nghiên cứu cuối thập niên 1990, nhưng một dự án lặp lại quy mô lớn công bố năm 2016 không tìm thấy hiệu ứng đáng kể. Người đọc nên dè chừng những lời khuyên vừa trích người xưa vừa trích mô hình đang bị nghi ngờ.

Biết đủ và đặt mục tiêu cao có vẻ ngược nhau. Nghiên cứu về đặt mục tiêu của Edwin Locke và Gary Latham cho thấy mục tiêu cụ thể và có thử thách thường dẫn tới kết quả tốt hơn mục tiêu mơ hồ kiểu "cố hết sức". Thoạt nghe, điều này đối nghịch với tri túc của Lão Tử. Nhưng tri túc nói về sự thoả mãn với điều mình có, còn đặt mục tiêu nói về cách tổ chức nỗ lực; một người có thể làm việc với mục tiêu rõ mà không coi hạnh phúc phụ thuộc vào việc đạt mục tiêu.

Bẫy hay gặp khi gán ghép người xưa với khoa học

Chọn lọc hồi cứu. Kho lời xưa rất lớn và đa dạng, nên với gần như mọi phát hiện khoa học, đều tìm được một câu cổ "đã nói từ lâu". Người gán ghép chỉ trưng ra câu khớp, bỏ qua những câu ngược lại. Thử đi theo chiều ngược: lấy một câu cổ trước, rồi xem nghiên cứu nói gì, sẽ thấy tỷ lệ khớp thấp hơn nhiều.

Nói "khoa học đã chứng minh Khổng Tử đúng". Khoa học kiểm định những giả thuyết cụ thể, đo được, trong điều kiện cụ thể. Một nghiên cứu về viết phản tư không chứng minh toàn bộ Luận ngữ. Cách nói chính xác hơn là: một ý trong lời xưa có điểm tương đồng với một phát hiện, ở mức bằng chứng như thế nào.

Dựa vào nghiên cứu đơn lẻ chưa được lặp lại. Năm 2015, một dự án hợp tác lớn lặp lại một trăm nghiên cứu tâm lý học đã công bố và chỉ thu được kết quả có ý nghĩa thống kê ở khoảng một phần ba. Những phát hiện gây chú ý, hay được trích kèm danh ngôn trên mạng, thuộc nhóm cần dè chừng nhất.

Thang đơn giản để đánh giá một tuyên bố kiểu "người xưa và khoa học"

Khi đọc một bài viết nối lời xưa với nghiên cứu hiện đại, thử xếp tuyên bố khoa học trong đó vào một trong các bậc dưới đây.

  • Bậc 1, tổng hợp nhiều nghiên cứu: có phân tích gộp hoặc tổng quan hệ thống, kết quả khá nhất quán.
  • Bậc 2, nhiều nghiên cứu độc lập: có thí nghiệm ở nhiều nhóm, nhiều nơi, nhưng chưa có tổng hợp hoặc kết quả còn chênh.
  • Bậc 3, một nghiên cứu nổi tiếng: được trích nhiều nhưng chưa được lặp lại, hoặc lặp lại không thành.
  • Bậc 4, lý thuyết hoặc thực hành phổ biến: hợp lý, được dùng rộng rãi, nhưng ít bằng chứng thực nghiệm.
  • Bậc 5, khẳng định không có nguồn: "các nhà khoa học đã chứng minh" mà không nói ai, khi nào, ở đâu.

Phần lớn bài viết kiểu này trên mạng nằm ở bậc 3 đến bậc 5. Điều đó không làm lời xưa mất giá trị, nhưng có nghĩa là bạn nên coi phần "khoa học" như một lời gợi ý thú vị, không phải bảo chứng.

Ví dụ giả định: dùng cả hai trong một tuần làm việc

Một trưởng nhóm sắp khởi động dự án mới. Trước buổi họp đầu, chị mượn tinh thần hình dung nghịch cảnh của Seneca dưới dạng một buổi phân tích tiền nghiệm: cả nhóm tưởng tượng sáu tháng sau dự án đã thất bại, rồi mỗi người viết ra lý do có thể. Danh sách thu được giúp nhóm sửa kế hoạch trước khi bắt đầu.

Mỗi tối, chị dành năm phút trả lời ba câu hỏi theo kiểu Tăng Tử, đổi cho hợp công việc: hôm nay mình đã làm hết lòng với việc được giao chưa, đã giữ lời với đồng nghiệp chưa, đã học được gì mới chưa. Chị không kỳ vọng điều kỳ diệu, chỉ dùng nó như một cách giữ nhịp.

Khi một thành viên phản ứng gay gắt trong cuộc họp, chị nhớ tới Epictetus: điều khiến mình bực là cách mình diễn giải lời anh ấy. Chị thử đánh giá lại: có thể anh đang chịu áp lực từ phía khách hàng. Cách nghĩ này không biến cơn bực thành vô nghĩa, nhưng giúp chị trả lời bình tĩnh hơn. Lời xưa ở đây không phải lý thuyết được chứng minh, mà là những lời nhắc dễ nhớ cho các kỹ thuật có cơ sở.

Vì sao lời xưa vẫn có ích khi khoa học đã có câu trả lời

Khoa học hành vi giỏi trả lời câu hỏi "điều gì xảy ra nếu ta làm thế này". Nó ít khi trả lời câu hỏi "ta nên sống vì điều gì". Lời xưa, dù không phải nghiên cứu, gợi ra những định hướng giá trị: sống ngay thẳng, biết ơn, biết đủ, giữ lời. Hai thứ bổ sung cho nhau chứ không thay thế nhau.

Lời xưa còn có một lợi thế thực tế: dễ nhớ. Một câu ngắn có hình ảnh, như "nước chảy đá mòn", ở lại trong đầu lâu hơn một kết quả nghiên cứu kèm hệ số tương quan. Dùng lời xưa như cái móc để nhớ một nguyên tắc đã được kiểm chứng là cách kết hợp khéo, miễn là bạn không nhầm cái móc với bằng chứng.

Cuối cùng, lời xưa giữ cho ta khiêm tốn về sự mới mẻ. Nhiều câu hỏi mà khoa học hành vi đang nghiên cứu, như làm sao giữ bình tĩnh, làm sao rèn thói quen tốt, làm sao sống cùng người khác, đã được con người suy nghĩ nghiêm túc từ hơn hai nghìn năm trước. Biết điều đó không làm khoa học kém giá trị, nhưng giúp ta đọc cả hai với sự tôn trọng và tỉnh táo như nhau.

Câu hỏi thường gặp

Đọc triết học khắc kỷ có thay được trị liệu tâm lý không?

Không. Triết học khắc kỷ có thể giúp nhiều người suy nghĩ bình tĩnh hơn trong đời sống thường ngày, nhưng trầm cảm, rối loạn lo âu hay khủng hoảng tinh thần cần được chuyên gia đánh giá và hỗ trợ. Liệu pháp nhận thức hành vi lấy cảm hứng từ một số ý tưởng khắc kỷ nhưng là một phương pháp có quy trình và được kiểm nghiệm.

Có thật cần hai mươi mốt ngày để tạo thói quen không?

Không có cơ sở vững cho con số đó. Nghiên cứu theo dõi người tập hành vi mới cho thấy thời gian để hành vi trở nên tự động dao động rất rộng, từ vài tuần tới nhiều tháng, tuỳ hành vi và tuỳ người. Điều ổn định hơn là việc lặp lại đều đặn trong cùng bối cảnh giúp thói quen hình thành.

Thiền và các lời dạy phương Đông có được khoa học kiểm chứng không?

Các chương trình tập chú tâm thế tục đã được nghiên cứu nhiều, với kết quả có ích ở mức vừa phải cho căng thẳng và lo âu, nhưng chất lượng nghiên cứu không đồng đều. Bài viết này chỉ bàn lời dạy ở góc triết học và đạo đức; khi đánh giá một phương pháp cụ thể, nên tìm tổng quan nghiên cứu thay vì lời quảng bá.

Khủng hoảng tái lập trong tâm lý học có làm mất giá trị các nghiên cứu được trích không?

Không phải tất cả, nhưng nó nhắc ta thận trọng với nghiên cứu đơn lẻ, nhất là những phát hiện gây ngạc nhiên. Những kết quả được lặp lại nhiều lần và có tổng hợp, như hiệu quả của liệu pháp nhận thức với trầm cảm, vững hơn nhiều so với một thí nghiệm nổi tiếng chưa ai kiểm lại.

Vì sao người ta thích nói "khoa học đã chứng minh lời ông bà"?

Vì câu đó vừa làm ta tự hào về truyền thống, vừa mượn được uy tín của khoa học. Nó cũng làm bài viết hấp dẫn hơn. Nhưng nó thường đơn giản hoá cả hai phía: lời xưa bị rút thành một câu, nghiên cứu bị rút thành một kết luận chắc chắn mà chính các nhà nghiên cứu không dám khẳng định.

Có nên dạy học sinh lời xưa kèm nghiên cứu khoa học không?

Nên, nếu dạy cả cách đánh giá mức bằng chứng. Đặt một câu cổ cạnh một nghiên cứu rồi hỏi học sinh hai thứ giống và khác nhau ở đâu, nghiên cứu vững tới mức nào, là bài tập tư duy phản biện tốt. Tránh dạy theo kiểu khoa học đến để xác nhận người xưa luôn đúng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.